<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rdf:RDF xmlns:rdf="http://www.w3.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#" xmlns="http://purl.org/rss/1.0/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
  <channel rdf:about="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/160">
    <title>DSpace Collection:</title>
    <link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/160</link>
    <description />
    <items>
      <rdf:Seq>
        <rdf:li rdf:resource="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/227" />
        <rdf:li rdf:resource="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/225" />
        <rdf:li rdf:resource="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/224" />
        <rdf:li rdf:resource="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/222" />
      </rdf:Seq>
    </items>
    <dc:date>2026-05-22T02:09:24Z</dc:date>
  </channel>
  <item rdf:about="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/227">
    <title>Tương lai ứng dụng Enzyme trong xử lý phế thải (Tổng quan)</title>
    <link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/227</link>
    <description>Title: Tương lai ứng dụng Enzyme trong xử lý phế thải (Tổng quan)
Authors: Trần, Đình Toại; Trần, Thị Hồng
Abstract: Ngày nay, tốc độ ô nhiễm môi trường đang gia tăng, do đó cần phải thực hiện nghiêm&#xD;
ngặt các tiêu chuẩn đối với việc thải chất thải vào môi trường. Các phương pháp xử lý hoá học và&#xD;
sinh học thông thường ngày càng khó đạt được mức độ cần thiết để loại bỏ các chất ô nhiễm này.&#xD;
Do đó, cần phải triển khai những phương pháp xử lý nhanh hơn, rẻ hơn, đáng tin cậy hơn và với&#xD;
những dụng cụ đơn giản hơn so với những hệ thống xử lý hiện hành. Hiện nay người ta đã biết&#xD;
nhiều loại enzym khác nhau của thực vật và vi sinh vật. Số lượng enzym đã biết đạt tới con số hơn&#xD;
3000 enzym. Các enzym, đặc biệt là Hydrolases và Oxidoreductases có tác dụng đặc thù trong xử lý&#xD;
các ô nhiễm bằng cách kết tủa hoặc chuyển hóa các sản phẩm phân hủy chất thải.&#xD;
Enzym có nhiều triển vọng ứng dụng trong tương lai. Một số enzym đã được ứng dụng thành&#xD;
công trong việc xử lý chất thải. Tuy nhiên cần có những nghiên cứu tiếp theo để tìm ra enzym có&#xD;
hoạt độ tốt nhất và tối ưu nhất trong thực tế sử dụng.</description>
    <dc:date>2007-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/225">
    <title>Two new species of the genus Arisaema Mart. (Araceae) described for Flora of Vietnam</title>
    <link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/225</link>
    <description>Title: Two new species of the genus Arisaema Mart. (Araceae) described for Flora of Vietnam
Authors: Nguyen, Van Du
Abstract: Arisaema omkoiense Gusman and A. ramulosum Anderw. have been described as new&#xD;
record for Flora of Vietnam. Among them, Arisaema omkoiense was found in Chieng Mai (Thailand)&#xD;
recently by Gusman, now recorded in Centre Vietnam (Quang Tri and Kontum prov.). The other&#xD;
one, A. ramulosum Anderw. an endemic of Indonesia for longtime, has been found in Northern&#xD;
Vietnam (Cao Bang and Bac Can prov.).</description>
    <dc:date>2007-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/224">
    <title>Đánh giá tác động của hạn hán và vai trò một số biện pháp giữ ẩm đối với ngô vụ Đông tại vùng Trung du Bắc Bộ</title>
    <link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/224</link>
    <description>Title: Đánh giá tác động của hạn hán và vai trò một số biện pháp giữ ẩm đối với ngô vụ Đông tại vùng Trung du Bắc Bộ
Authors: Đoàn, Văn Điếm; Trần, Danh Thìn
Abstract: Vụ ngô Đông trên vùng Trung du Bắc bộ (TDBB) hạn hán xảy ra nghiêm trọng ở hầu hết&#xD;
các giai đoạn sinh trưởng thân lá, phân hoá hoa và làm hạt, các chỉ số khí hậu như hệ số thuỷ nhiệt&#xD;
(HTC); chỉ số khô hạn (K) và chỉ số ẩm (MI) đều phản ánh mức độ từ hạn vừa (thiếu ẩm) đến hạn&#xD;
hán nghiêm trọng (thiếu ẩm nghiêm trọng), trừ giai đoạn gieo – 3 lá. Hạn hán ảnh hưởng xấu tới tất&#xD;
cả các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, số lá, diện tích lá ngô LVN - 4, đặc biệt, đã làm giảm&#xD;
các yếu tố cấu thành năng suất và chỉ cho năng suất 39,3% so với điều kiện được tưới đủ ẩm.&#xD;
Các biện pháp chống hạn phát huy tác dụng giữ ẩm tốt, làm tăng độ ẩm đất trong thời kỳ hạn&#xD;
hán nghiêm trọng. Nhờ vậy, các chỉ tiêu sinh trưởng của ngô như chiều cao cây, số lá và diện tích lá&#xD;
đều cao. Các biện pháp giữ ẩm cũng giúp cây phân hoá hoa, thụ phấn và vận chuyển dinh dưỡng&#xD;
về hạt khá tốt nên các yếu tố cấu thành năng suất luôn cao hơn đối chứng. Trong điều kiện hạn hán&#xD;
nghiêm trọng, biện pháp che phủ nilon cho năng suất cao nhất, đạt 191,7% so với đối chứng, lãi&#xD;
thuần trên 3 triệu đồng/ha.</description>
    <dc:date>2007-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/222">
    <title>Nghiên cứu khả năng hấp thu một số kim loại nặng (Cu2+, Pb2+, Zn2+) trong nước của nấm men Saccharomyces cerevisiae</title>
    <link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/222</link>
    <description>Title: Nghiên cứu khả năng hấp thu một số kim loại nặng (Cu2+, Pb2+, Zn2+) trong nước của nấm men Saccharomyces cerevisiae
Authors: Nguyễn, Thị Hà; Trần, Thị Hồng; Nguyễn, Thị Thanh Nhàn; Đỗ, Thị Cẩm Vân; Lê, Thị Thu Yến
Abstract: Các phương pháp tách kim loại nặng trong nước đang được áp dụng thường phải sử&#xD;
dụng hoá chất và có chi phí khá cao. Do vậy việc nghiên cứu các biện pháp hiệu quả hơn như&#xD;
phương pháp hấp thu sinh học để tách kim loại nặng là rất cần thiết. Trong nghiên cứu này đã&#xD;
khảo sát khả năng hấp thu sinh học một số kim loại nặng (Cu2+, Pb2+ và Zn2+) của Saccharomyces&#xD;
cerevisiae. Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thu như pH, nồng độ ban đầu của kim loại&#xD;
nặng cũng được khảo sát. Kết quả cho thấy S. cerevisiae sinh trưởng tốt trong môi trường pH = 5,&#xD;
kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây. Khả năng hấp thu ion Cu2+, Pb2+ và Zn2+&#xD;
chủ yếu xảy ra ở 6 giờ đầu khi bắt đầu quá trình hấp thu. Khả năng hấp thu tăng khi nồng độ ban&#xD;
đầu của kim loại tăng. Khả năng hấp thu cực đại của Cu2+ đạt 63% sau 48 giờ. Nồng độ Cu2+ còn lại&#xD;
trong dung dịch giảm từ 250 đến 92,7mg/l; và trong sinh khối là 89mg/g. Khả năng hấp thu kim&#xD;
loại nặng của S. cerevisiae theo thứ tự: Pb2+&gt; Cu2+&gt; Zn2+, với nồng độ đầu vào 50mg/l, sau 48 giờ&#xD;
nồng độ của Pb2+, Cu2+ và Zn2+ trong dịch giảm xuống tương ứng còn 2,8; 37,5 và 39,5mg/l. Hiệu&#xD;
suất hấp thu đạt tương ứng 95; 25 và 21%. Kết quả cho thấy S. cerevisiae có khả năng hấp thu kim&#xD;
loại nặng khá tốt, tuy nhiên cần phải tiến hành các nghiên cứu tiếp theo về cơ chế quá trình hấp&#xD;
thu; khả năng hấp thu các kim loại khác như Cr, Mn, Ni, Cd, Hg ...; và khả năng hấp thu kim loại&#xD;
nặng trong nước thải thực tế.</description>
    <dc:date>2007-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
</rdf:RDF>

